Về Cưu Ma La Thập
1.
Thời gian vừa rồi ở ngòai thành phố biển Nha Trang quả là rảnh rỗi. Tinh thần thong thả và một tủ sách đầy ắp do ba tôi ra sức vun vén làm tôi cho dù có thờ ơ cách mấy cũng phải đến lúc lôi xuống đôi ba quyển mà nghiền ngẫm. Phải nghiền ngẫm thôi vì ở đó tòan là sách nghiên cứu, phần lớn là về Phật giáo, một số sách lẻ về triết học, đôi ba cuốn phê bình văn học. Sách văn học thì tuyệt đối không được nằm chung trong tủ sách trên. Mà tôi cũng chán đọc sách văn học rồi. Có vẻ mình đã mơ mộng đủ cho quãng thời gian vừa qua. Tôi quyết định chọn đọc một bộ gồm 2 quyển:
- Duy Ma Cật Sở Thuyết, do Tuệ Sỹ dịch và chú.
- Huyền Thoại Duy Ma Cật, do Tuệ Sỹ viết.
Duy Ma Cật Sở Thuyết là một bộ kinh nổi tiếng của Phật Giáo Đại thừa, nó xiển dương tư tưởng Đại Thừa và chú trọng đến yếu tố Bồ Tát Hạnh. Tuệ Sỹ dịch quyển này từ nhiều nguồn khác nhau, mà cụ thể là 3 nguồn chính (thật ra là nhiều hơn nhưng tôi thấy ông thường chú về 3 nguồn này), đó là:
- Bản Hán do Cưu Ma La Thập dịch, vào đời Dao Tần.
- Bản Hán do Trần Huyền Trang dịch, vào đời Đường.
- Bản Phạn mới vừa được phát hiện năm 2008, tuy nhiên lại có niên đại sau cả hai bản Hán dịch, do đó Tuệ Sỹ chỉ sử dụng như công cụ tra cứu rà sóat lại các điểm bất đồng.
Tất nhiên trong một bản kinh thì việc nêu quá nhiều chi tiết liên quan đến việc dịch thuật là không tiện, trong khi thật sự công việc dịch thuật chứa đựng rất nhiều chi tiết quan trọng. Ví dụ như độ vênh giữa các bản dịch, vì chúng ta biết Cưu Ma La Thập và Huyền Trang có hai phương pháp dịch khá là khác biệt, hơn nữa niên đại cũng khác nên nhiều khả năng bản Phạn Văn mà hai ông dùng để dịch là khác nhau rất rõ ở nhiều điểm. Để đối chiếu các điểm khác nhau, đồng thời diễn dịch và làm rõ hơn nghĩa lý của kinh điển, Tuệ Sỹ đã cất công viết thêm quyển Huyền Thoại Duy Ma Cật, mà ta có thể xem như một quyển sách giảng giải cho kinh trên.
2.
Như tôi đã trình bày, Cưu Ma La Thập và Huyền Trang có hai phương pháp dịch kinh khá là khác biệt. Trong khi Cưu Ma La Thập chủ trương dịch ý, chuyển tải nội dung bản kinh là chủ yếu chứ không câu nệ câu chữ trong bản gốc thì ngược lại, Huyền Trang lại chủ trương trung thành với nguyên bản. Do cấu trúc ngữ pháp của tiếng Phạn là khá rắc rối nên việc dịch sát như Huyền Trang lại khiến bản dịch có phần trúc trắc, khó hiểu. Tuy nhiên ta nên nhìn nhận đó là một thái độ làm việc nghiêm túc. Về bản dịch của Cưu Ma La Thập, do ông dịch thóat nên văn phong nhuần nhị, câu cú suôn sẻ lại đọc lên có vần điệu trầm bổng nên rất được ưa chuộng trong việc đọc tụng trong các thời kinh ở chùa chiền hay tại gia. Truyền thống đó vẫn được giữ cho đến ngày nay.
3.
Về cuộc đời và sự nghiệp của Huyền Trang thì mọi người có lẽ biết nhiều hơn thông qua… Tây Du Ký. Thật ra đó chỉ là một tác phẩm hư cấu. Đời thật của Huyền Trang thật ra cũng đã khá nổi tiếng rồi và tôi đã đọc về ông này ít nhất là hai quyển sách và vài bài báo linh tinh khác trong mớ tạp chí Kiến Thức Ngày Nay. Bây giờ thì không tài nào nhớ nổi nội dung của hai bài báo đó. Vì vậy nên tôi chuyển hướng sang Cưu Ma La Thập. Cuộc đời vị Pháp sư này có nhiều tình tiết thú vị, mà có lẽ là được huyền thoại hóa lên cũng khá nhiều.
Đợt vô Sài Gòn vừa rồi tôi ngay lập tức nên mạng tìm hiểu về tiểu sử của Cưu Ma La Thập. Số lượng bài vở về ông là rất nhiều, nhưng phải nói là cũng rất lung tung và có nhiều điểm choảng nhau đôm đốp. Nhưng tôi xin nêu lên 2 điểm về cuộc đời ông, mà tôi thấy là thú vị:
- Một là, cha của Cưu Ma La Thập là một nhà sư nhưng sau đó hòan tục để lấy công chúa nước Quy Tư, là mẹ của ông. Chi tiết này tất cả các tài liệu đều có đề cập đến. Ở đây ta thấy có một sự phá giới. Vậy thì tiếp tục đi tu để chứng đạt giác ngộ vô lượng hay lấy công chúa để sinh ra đứa con tài năng xuất chúng góp phần xiển dương và bảo tồn Đạo Pháp? Ấy là một điểm khá thú vị để bàn luận.
- Hai là, bản thân Cưu Ma La Thập là nguyên nhân của một cuộc chiến. Do nghe danh tiếng về ông mà vua nước Dao Tần bên Tàu quyết định cử quân đi đánh chiếm nước Quy Tư với chỉ một mục tiêu là mời được Cưu Ma La Thập về Tàu để hoằng pháp. Điểm này cũng được đề cập đến trong đa số tài liệu mà ta có thể tin cậy. Tuy nhiên do dốc tòan quân đi đánh Quy Tư nên vua nước Dao Tần lại bị nội phản và mất nước. Có thể thấy, do một ý định tốt đẹp là hoằng pháp, nhưng việc thực hiện một biện pháp “nặng kí” đã dẫn đến hậu quả khôn lường. Vấn đề ở chỗ Cưu Ma La Thập là cháu đích tôn của vua Quy Tư, đồng thời cũng là một danh tăng, được coi như quốc bảo, vì vậy mà chẳng đơn giản mà nước này lại đồng ý cho ông đi Tàu. Chiến tranh coi như một tất yếu phải xảy đến. Ta thấy, sự nghiệp hoằng pháp thật ra rất đau thương, ngay cả bởi những biện pháp mà vị tăng cất công lên đường hoằng hóa cũng không dự định và không muốn thực hiện. Ta phê phán việc vua Dao Tần gây ra chiến tranh chỉ để giành một ông Tăng, nhưng cũng nên nhìn nhận sự việc trên đã đóng góp rất nhiều cho Phật giáo Trung Hoa nói riêng và Phật giáo nói chung. Vì như ta đã biết, vào thời Trung cổ, Hồi giáo đã hòan tòan chiếm lĩnh mảnh đất Ấn độ và Phật giáo ở đây bị tiêu diệt gần như về con số không. Sự truyền bá, mà công sức của Cưu Ma La Thập là rất to lớn, chính là con đường tồn tại và tiếp tục phát triển của đạo Phật trên quả địa cầu này.
4.
Để kết thúc, tôi xin trích dẫn đoạn về Cưu Ma La Thập trong Cao Tăng Dị Truyện:
“Sư người Trung Thiên Trúc, cha tên Cưu Ma La Viêm, làm Tướng quốc mà bỏ vinh hoa đi chu du. Vua nước Quy Tư đem em gái gả cho ông, sanh ra Cư Ma La Thập. Sư còn bé mà tinh thần linh mẫn, bảy tuổi đi theo mẹ đến chùa . Thấy bát sắt, thử nhấc để lên cổ, rồi sực nhớ: “Bát này rất nặng, sao ta nhấc nổi?”. Sư nhấc lại, bát không nhúc nhích, liền ngộ được vạn pháp duy tâm. Sự học rộng nhớ giỏi của Sư không ai bì kịp.
Năm Sư hai mươi tuổi, mẹ Sư từ giã vua, đến Thiên Trúc, bảo Sư rằng:
- Giáo lý Phương đẳng thâm sâu, chẳng thể suy lường. Chỉ có con mới truyền được đến phương Ðông. Nhưng việc này đối với con có chỗ bất lợi, chả biết phải làm sao đây!
Sư đáp:
- Chỉ cần cho đại pháp được lưu truyền, con tuy chịu khổ sở cũng không có gì hối hận.
Mẹ Sư đến Thiên Trúc, tu đắc quả A na hàm.
Phù Kiên chiếm nước Tần, công phạt Nhượng Dương, rước được Ðạo An. Ðạo An khuyên Phù Kiên đến Tây Vực rước Sư. Gặp ngay lúc Thái sử tâu:
- Ðức tinh hiện ở rừng, thuộc địa phận Tây Vực, sẽ có bậc đại trí đến Trung Quốc.
Phù Kiên nói:
- Trẫm nghe nước Quy Tư có ngài La Thập, chẳng phải là đây sao?
Bèn sai tướng Lữ Quang, bảo:
- Trẫm chẳng phải tham đất mà dụng binh. Nhưng nghe ngài La Thập hiểu sâu về pháp tướng, làm tông phú cho kẻ hậu học. Ngươi nếu khắc phục được Quy Tư, nên đón Ngài về.
Lữ Quang đem quân phá Quy Tư, đưa La Thập về. Giữa đường, nghe tin Phù Kiên bị Diêu Trường hại, bèn dừng lại không về nữa. Vì thế Sư không đến được kinh đô nhà Tần. Sau Diêu Trường cũng nghe danh Sư, muốn thỉnh nhưng Lữ Quang không chịu. Diệu Trường chết, con là Diệu Hưng lại thỉnh nữa, cũng không được, liền đem quân đánh Lữ Quang. Lữ Quang thua phải hàng. Tần mới rước được Sư.
Tháng mười hai, Sư đến Trường An. Tần chủ sai đưa Sư vào vườn Tiêu Dao ở Tây nội dịch kinh. Sư xem lại kinh sách cũ thấy nhiều chỗ sai lầm, không phù hợp với bản tiếng Phạn, bèn tập hợp sa môn Tăng Triệu, Tăng Duệ … để dịch lại.
Sư ở đất Tần, thường giảng kinh ở chùa Thảo Ðường. Tần chủ Diêu Hưng, triều thần và sa môn khoảng mấy ngàn người, nghiêm túc lắng nghe. Một hôm Diêu Hưng bảo với Sư:
- Ðại sư thông minh, biện tài vô song. Sao lại để hạt giống Pháp không nối tiếp được!
Rồi đem mười cung nữ ép nhận. Sư từ đó không ở trong tăng phòng, cất nhà riêng ở. Chư tăng có người muốn bắt chước. Sư bèn lấy một bát đựng đầy kim, bảo mọi người:
- Nếu ai bắt chước ta ăn được bát này thì cho phép cất nhà riêng để ở.
Sư nói xong, lấy bảy cây kim đưa vào miệng nhai nuốt. Chư tăng nể phục bèn thôi.
Phật Ðà Da Xá (Giác Minh) đến Cô Tàng, nghe La Thập nhận cung nữ nhà Tần, liền than:
- La Thập như bông vải, có thể khiến gặp gai góc sao?
Sư nghe tin Da Xá vì mình mà lặn lội từ xa đến, nên khuyên Tần chủ tiếp đón. Sứ giả đến nơi, Da Xá nói:
- Chiếu chỉ của vua từ xa đến, lẽ ra nên đem ngựa tiếp đón long trọng như lễ La Thập, mới là đàn việt chiêu đãi kẻ sĩ. Bần đạo nên đến phía bắc Bắc Sơn thôi!
Sứ trở về. Diêu Hưng lại đi giục đi thỉnh nữa, Da Xá liền đến. Tần chủ nghinh tiếp, lập tịnh xá riêng, cúng dường như bậc vương giả. Da Xá không nhận gì cả. Ðến giờ ăn, chỉ ăn ngày một bửa thôi.
Cưu Ma La Thập ưa thích Ðại thừa, muốn được diễn giảng, Sư thường than:
- Ta nếu cầm viết, làm luận Ðại thừa thì Ca Chiên Tử cũng không bì kịp. Nay người hiểu sâu quá ít ỏi, biết luận gì bây giờ?!
Sư vì Diêu Hưng mà tạo hai quyển Thành Thật Luận.
Ðời Hậu Tần, niên hiệu Hoằng Thủy thứ mười lăm (41), tháng tư Ngài có bệnh, bèn đọc ba biến thần chú, sai đệ tử ngoại quốc (Thiên Trúc) tụng để tự cứu chữa nhưng chưa đúng sức. Sư biết bệnh mình nguy kịch, bèn nhóm chúng bảo:
- Chúng ta nhân nơi Phật pháp mà được gặp nhau, nhưng vẫn chưa được trọn tấm lòng. Tôi sợ người sau có thể trách mình còn mờ tối, dở tệ lầm lẫn dẫy đầy mà truyền bá những bản kinh dã dịch. Mong rằng sự truyền bá sau này được trôi chảy. Nay tôi thành tâm xin phát nguyện trước chúng: “Nếu chỗ truyền chẳng lầm, nghĩa khế hợp với tâm Phật, thì cho tôi sau khi thiêu thân, lưỡi vẫn còn nguyên vẹn”.
Nói xong, Sư thị tịch. Khi trà tì, củi tàn, thân cháy hết mà lưỡi Ngài vẫn tươi hồng như màu sen. Sư thọ bảy mươi hai tuổi.
Ban đầu, Sư thường cùng mẹ đến yết kiến tôn giả Bắc Sơn ở nước Ðại Nguyệt Thị. Bắc Sơn bảo mẹ Sư:
- Hãy khéo gìn giữ Sa di này. Năm ba mươi lăm tuổi, tỳ ni sẽ không thiếu sót, độ người như ngài Ưu Ba Cúc Ða.
Ngài Bôi Ðộ ở Bành Thành, nghe tin ngài La Thập tịch, than rằng:
- Ta cùng người này tạm biệt đã hơn ba trăm năm, mờ mịt chẳng biết đâu gặp lại, nay thì lại chậm đến đời sau vậy.
Ðệ tử Sư hơn ngàn người. Bốn vị: Ðạo Sinh, Tăng Triệu, Ðạo Dung, Tăng Duệ là Tứ thánh dưới cửa Ngài.
Kinh luận Sư dịch hơn 390 quyển.”
Leave a Response »